Giới thiệu
Lĩnh vực ứng dụng
Giám sát quá trình xử lý khử trùng nước bằng clo, ví dụ như nước bể bơi, nước uống, mạng lưới đường ống và nguồn cung cấp nước thứ cấp, v.v.
Chỉ số kỹ thuật
| Tên | Máy phân tích độ đục trực tuyến |
| Người mẫu | TBG-2088S/P |
| Phạm vi đo | 0-20 NTU, 0-200 NTU |
| Nghị quyết | 0,01NTU |
| Sự chính xác | Sai số ±2% hoặc ±0,02NTU, lấy giá trị lớn hơn (phạm vi 0-20NTU) ±5% hoặc ±0,5NTU, lấy giá trị nào lớn hơn (lớn hơn (Dải 100NTU) |
| Giao diện truyền thông | ModBusRS485 |
| Tín hiệu đầu ra | 4-20mA |
| Rơle | 5A/250V AC, 5A/30V DC |
| Nguồn điện | 85V ~ 265V AC 50/60Hz 24VDC |
| Mức tiêu thụ điện năng | < 20W |
| Đường kính đầu vào | 6mm (đầu nối nhanh 2 điểm) |
| Đường kính thoát nước | 16mm (đầu nối nhanh) |
| Môi trường làm việc | nhiệt độ: (0-50)℃; |
| Môi trường lưu trữ | Độ ẩm tương đối: ≤85% RH (không ngưng tụ) |
| Kích thước tủ | 600mm×400mm×230mm (chiều cao×chiều rộng×chiều sâu) |
Độ đục là gì?
Độ đụcĐộ đục, một thước đo độ vẩn đục của chất lỏng, được công nhận là một chỉ số đơn giản và cơ bản về chất lượng nước. Nó đã được sử dụng để giám sát nước uống, bao gồm cả nước được sản xuất bằng phương pháp lọc, trong nhiều thập kỷ.Độ đụcPhương pháp đo này sử dụng một chùm tia sáng có đặc tính xác định để xác định định lượng sự hiện diện của vật chất dạng hạt trong mẫu nước hoặc chất lỏng khác. Chùm tia sáng này được gọi là chùm tia sáng tới. Vật chất có trong nước làm cho chùm tia sáng tới bị tán xạ, và ánh sáng tán xạ này được phát hiện và định lượng so với một tiêu chuẩn hiệu chuẩn có thể truy vết. Lượng vật chất dạng hạt trong mẫu càng cao, sự tán xạ của chùm tia sáng tới càng lớn và độ đục thu được càng cao.
Bất kỳ hạt nào trong mẫu đi qua nguồn sáng chiếu xác định (thường là đèn sợi đốt, điốt phát quang (LED) hoặc điốt laser) đều có thể góp phần vào độ đục tổng thể của mẫu. Mục tiêu của quá trình lọc là loại bỏ các hạt khỏi mẫu. Khi hệ thống lọc hoạt động đúng cách và được theo dõi bằng máy đo độ đục, độ đục của nước thải sẽ được đặc trưng bởi phép đo thấp và ổn định. Một số máy đo độ đục trở nên kém hiệu quả hơn đối với nước siêu sạch, nơi kích thước hạt và nồng độ hạt rất thấp. Đối với những máy đo độ đục thiếu độ nhạy ở mức thấp này, sự thay đổi độ đục do rò rỉ màng lọc có thể nhỏ đến mức không thể phân biệt được với nhiễu nền độ đục của thiết bị.
Tiếng ồn nền này có nhiều nguồn gốc, bao gồm tiếng ồn vốn có của thiết bị (tiếng ồn điện tử), ánh sáng lạc từ thiết bị, tiếng ồn mẫu và tiếng ồn trong chính nguồn sáng. Những nhiễu này cộng dồn lại và trở thành nguồn chính gây ra các phản ứng dương tính giả về độ đục, đồng thời có thể ảnh hưởng xấu đến giới hạn phát hiện của thiết bị.


















