Nguyên lý hoạt động
Chất điện giải và màng thẩm thấu ngăn cách buồng điện phân và mẫu nước, màng thấm có thể chọn lọc cho phép ion ClO- đi vào; giữa hai lớp này có một màng thấm.
Điện cực có hiệu điện thế cố định, cường độ dòng điện tạo ra có thể được chuyển đổi thànhclo dưsự tập trung.
Tại cực âm: ClO-+ 2H+ + 2e-→ Cl-+ H2O
Tại cực dương: Cl-+ Ag → AgCl + e-
Vì trong điều kiện nhiệt độ và độ pH nhất định, HOCl, ClO- và clo dư có mối quan hệ chuyển hóa cố định, nên theo cách này có thể đo được...clo dư.
Chỉ số kỹ thuật
| 1. Phạm vi đo | 0,005 ~ 20 ppm (mg/L) |
| 2. Giới hạn phát hiện tối thiểu | 5 ppb hoặc 0,05 mg/L |
| 3. Độ chính xác | 2% hoặc ±10 ppb |
| 4. Thời gian phản hồi | 90% < 90 giây |
| 5. Nhiệt độ bảo quản | -20 ~ 60 ℃ |
| 6. Nhiệt độ hoạt động | 0~45℃ |
| 7. Nhiệt độ mẫu | 0~45℃ |
| 8. Phương pháp hiệu chuẩn | phương pháp so sánh trong phòng thí nghiệm |
| 9. Khoảng thời gian hiệu chuẩn | Nửa tháng |
| 10. Khoảng thời gian bảo dưỡng | Thay màng ngăn và chất điện giải sau mỗi sáu tháng. |
| 11. Các ống nối cho nước vào và nước ra | đường kính ngoài Φ10 |
Bảo trì hàng ngày
(1) Chẳng hạn như phát hiện toàn bộ hệ thống đo có thời gian phản hồi dài, màng bị rách, không có clo trong môi trường, v.v., cần phải thay màng, bảo trì bằng cách thay chất điện giải. Sau mỗi lần thay màng hoặc chất điện giải, điện cực cần được phân cực lại và hiệu chuẩn.
(2) Tốc độ dòng chảy của mẫu nước đầu vào được giữ không đổi;
(3) Cáp phải được giữ trong ống dẫn nước sạch, khô ráo.
(4) Giá trị hiển thị của thiết bị và giá trị thực tế chênh lệch lớn hoặc giá trị dư clo bằng không, có thể điện cực clo bị khô trong dung dịch điện phân, cần phải bơm lại vào dung dịch điện phân. Các bước cụ thể như sau:
Tháo đầu điện cực (Lưu ý: tuyệt đối không làm hỏng màng thoáng khí), xả hết dung dịch điện phân cũ trên màng trước khi đổ dung dịch điện phân mới vào màng. Thông thường, cứ 3 tháng lại thêm dung dịch điện phân, còn đối với đầu màng thì thay mới sau mỗi nửa năm. Sau khi thay dung dịch điện phân hoặc đầu màng, cần phải hiệu chỉnh lại điện cực.
(5) Phân cực điện cực: tháo nắp điện cực và kết nối điện cực với thiết bị, sau đó điện cực được phân cực trong hơn 6 giờ.
(6) Khi không sử dụng địa điểm trong thời gian dài mà không có nước hoặc đồng hồ đo trong thời gian dài, nên nhanh chóng tháo điện cực, bọc nắp bảo vệ.
(7) Nếu điện cực không thay được điện cực.
Clo dư nghĩa là gì?
Lượng clo dư là lượng clo thấp còn lại trong nước sau một khoảng thời gian tiếp xúc nhất định sau khi được thêm vào lần đầu. Nó tạo thành một biện pháp bảo vệ quan trọng chống lại nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật sau khi xử lý – một lợi ích độc đáo và đáng kể cho sức khỏe cộng đồng. Clo là một hóa chất tương đối rẻ và dễ kiếm, khi hòa tan trong nước sạch với lượng đủ, sẽ tiêu diệt hầu hết các sinh vật gây bệnh mà không gây nguy hiểm cho con người. Tuy nhiên, clo sẽ bị tiêu hao khi các sinh vật bị tiêu diệt. Nếu thêm đủ clo, sẽ còn lại một lượng clo trong nước sau khi tất cả các sinh vật đã bị tiêu diệt, lượng này được gọi là clo tự do. (Hình 1) Clo tự do sẽ tồn tại trong nước cho đến khi nó bị mất vào môi trường bên ngoài hoặc được sử dụng để tiêu diệt các chất gây ô nhiễm mới. Do đó, nếu chúng ta kiểm tra nước và thấy rằng vẫn còn một lượng clo tự do, điều đó chứng tỏ rằng hầu hết các sinh vật nguy hiểm trong nước đã được loại bỏ và nước an toàn để uống. Chúng ta gọi đây là đo lượng clo dư. Đo lượng clo dư trong nguồn nước là một phương pháp đơn giản nhưng quan trọng để kiểm tra xem nước được cung cấp có an toàn để uống hay không.














